Breaking News
Home / Trí Thức / Sách giáo khoa tiểu học thời xưa: Bình dị mà đậm tính nhân văn

Sách giáo khoa tiểu học thời xưa: Bình dị mà đậm tính nhân văn

Mục đích của giáo dục không phải chỉ truyền thụ kiến thức, mà còn là đào tạo con người toàn diện, không thể tách rời kiến thức và đạo đức. Muốn đạt được mục đích này, không thể không quan tâm đến vai trò của sách giáo khoa.

trước 75, trước 1975, sách giáo khoa,

Sách giáo khoa tiểu học. (Ảnh: t/h)

Nội dung, tư tưởng trong các sách giáo khoa tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ thơ, nó in sâu vào tâm não trẻ thơ từ giai đọan đầu cắp sách đến trường cho đến lúc trưởng thành.

Khi đề cập đến vai trò của sách giáo khoa bậc tiểu học, nhiều nhà giáo dục luôn nhắc đến bộ sách Quốc văn giáo khoa thư của ông Trần Trọng Kim, Đỗ Thận, Nguyễn Văn Ngọc và Đặng Đình Phúc, xuất bản từ những năm 1930 – 1940. Đây là một trong những cuốn sách giáo khoa Việt ngữ được dạy ở các trường tiểu học Việt Nam trong suốt những thập niên nửa đầu thế kỷ 20.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, nước Việt Nam tạm thời chia đôi ở vĩ tuyến 17, thành hai miền Nam, Bắc. Miền Bắc xây dựng một nền giáo dục theo chủ nghĩa Mac-Lenin, hướng đến chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, Miền Nam theo chính thể tự do. Các nhà giáo dục Miền Nam tỏ ra rất thận trọng. Họ chủ trương cải tổ từ từ, chọn lọc để thích ứng với hoàn cảnh mới. Những gì người Pháp thiết lập không bị hủy bỏ ngay. Hệ thống giáo dục Pháp từ cấp tiểu học đến đại học được từ từ Việt hóa.

Tinh thần chung của nền học vấn miền Nam lúc bấy giờ là phải học lễ trước rồi mới học văn, tức coi việc rèn luyện đức – trí là quan trọng như nhau, nhưng đức phải đi trước một bước, nên trường học nào vào thời đó cũng có câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” treo ở những vị trí quan trọng dễ thấy nhất trong mỗi phòng học. Tinh thần trọng lễ nhờ thế không chỉ luôn ở trong tâm tưởng của mọi giáo chức từ tiểu học đến đại học, mà còn lan tỏa rộng khắp trong mọi giai tầng xã hội, tạo thành một xu thế học tập ứng xử chú trọng rèn luyện cả đức lẫn tài để chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho thế hệ tương lai trở thành những con người hữu dụng đối với bản thân, gia đình và xã hội.

Vì thế chương trình môn Quốc văn bậc tiểu học là dựa theo nội dung các bài học về đạo đức trong bộ sách Quốc văn giáo khoa thư và Luân lý giáo khoa thư để soạn một chương trình phù hợp với hoàn cảnh mới.

Theo chủ trương, một chương trình có thể có nhiều sách giáo khoa, chỉ cần theo chương trình và hướng dẫn của Bộ Giáo dục. Các soạn giả sách giáo khoa được tự do chọn bài, trích dẫn từ những tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng hoặc có thể tự mình sáng tác những bài thơ, bài văn theo chủ đề giảng dạy để đưa vào sách. Giáo viên cũng có quyền chọn sách giáo khoa để giảng dạy. Nhờ vậy, các soạn giả luôn cố gắng soạn ra những sách giáo khoa có giá trị và ra sức cải tiến cả về hình thức lẫn nội dung cho những lần xuất bản sau.

Có thể kể một số tên sách như: 100 bài tập đọc Lớp Nhất và Lớp Nhì (Một Nhóm Giáo Viên. NXB: Việt Hương), Nhị thập tứ hiếu (Lý văn Phức. NXB: Bình dân thư quán), Quốc văn Lớp Nhì, Quốc văn Lớp Nhất (Một nhóm Giáo viên. NXB: Việt Hương), Quốc văn toàn thư, Lớp Ba (Phạm trường Xuân & Yên Hà –Kinh Dương & Một Nhóm giáo viên.NXB: Việt Hương),…

Ngoài sách giáo khoa, giáo viên có thể sử dụng tác phẩm của những nhà văn có uy tín để bổ sung cho bài học trong lớp, như cuốn Tâm Hồn Cao Thượng (nguyên tác Grand coeurs của Edmond de Amicis. Dịch giả: Hà Mai Anh, 1952. NXB: Mai Đình), Thơ ngụ ngôn (Les Fabres de la Fontaine, Dich già: Nguyễn văn Vĩnh)…

trước 75, trước 1975, sách giáo khoa,

Học sinh cấp 2 mặc áo dài trắng ở miền Nam trước 1975. (Ảnh qua Pinterest)

Dân tộc Việt Nam sính thơ, có hẳn một khối ca dao và thơ lục bát đồ sộ, nên ngay cả trong lĩnh vực giáo dục cũng có thói quen sử dụng thơ ca. Nhìn lại một số sách giáo khoa cũ còn tìm được, cũng như bộ Tiểu học nguyệt san do Bộ Giáo dục thời đó ấn hành, có thể thấy về hình thức, hầu hết chúng đều là những bài thơ lục bát, song thất lục bát hoặc thơ mới (với mỗi câu 8 chữ, 7 chữ, hoặc số chữ trong các câu không đều nhau)…

Để phổ biến kiến thức, các nhà Nho thuở trước dạy dân, cũng quen dùng cùng một thể loại văn vần, để giúp người học dễ thuộc nằm lòng:

… Năm châu quanh mặt địa cầu,

Á Châu lớn nhất, Mỹ Châu thứ nhì.

Châu Âu, châu Úc, châu Phi,

Mỗi châu mỗi giống sắc chia rành rành…

(“Bài hát kể đường đất nước ta”)     

 

… Đạo vệ sinh phải nên biết trước,

Nghĩ rượu men là chất độc người.

Xin ai chớ lấy làm chơi,

Rượu ngon cấm tiệt nhớ lời Hạ vương…

(“Bài hát răn người uống rượu”)

Tính nhân văn của nền giáo dục Miền Nam trước năm 1975

trước 75, trước 1975, sách giáo khoa,

Cô trò một lớp tiểu học ở miền Nam. (Ảnh qua Nguyễn Huệ Hải Ngoại)

Từ năm 1959, nền giáo dục Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) đã lấy nguyên tắc căn bản: Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng làm triết lý giáo dục, và được ghi lại trong hiến pháp 1967. Chính những nguyên tắc này đã giữ cho truyền thống dân tộc được bảo tồn và phát triển vững vàng, nhưng không bảo thủ, và từng bước theo kịp đà phát triển của nhân loại.

Nền giáo dục nhân bản lấy con người làm gốc, tôn trọng và đề cao giá trị của con người. Con người khác các sinh vật khác, có tư duy, có sáng tạo và làm cho đời sống càng ngày càng nâng cao. Con người cần được no cơm ấm áo, tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng. Trong xã hội có những cá nhân khác biệt, nhưng không thể đánh giá con người qua sự khác biệt đó để kỳ thị giàu nghèo, giới tính, tôn giáo, địa phương, chủng tộc…

Mọi người đều được hưởng đồng đều về giáo dục. Đường hướng của nền giáo dục nhân bản là rèn luyện con người có nhân cách, có thái độ sống phù hợp với nguyên tắc đạo lý mà mọi người thừa nhận. Do đó, một con người có nhân cách sẽ có lòng yêu thương: yêu gia đình, yêu đồng bào đồng loại và yêu quê hương đất nước.

Các bài học mang tính nhân văn trong sách quốc văn bậc tiểu học

Các sách giáo khoa bậc tiểu học của Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) trước 1975 chú trọng những vấn đề luân lý đạo đức truyền thống, vẫn hàm chứa nội dung đạo đức trong các sách giáo khoa cũ của thế hệ 1940. Sau đây là một số bài tiêu biểu về tình thương yêu đồng bào, lòng biết ơn đối với mọi người trong xã hội, tình yêu quê hương đất nước và tình yêu nhân loại.

  • Tình thương yêu đồng bào, đồng loại

Theo truyền thống của người Việt Nam, tình thương yêu không chỉ dành cho trong gia đình, mà mở rộng đến cả đồng bào và đồng loại. Một giá trị tốt đẹp của con người là lòng nhân đạo. Khi thấy người hoạn nạn, đau yếu phải giúp đỡ bằng tình thương yêu chân thành. Quốc văn giáo khoa thư mượn bài thơ trong gia huấn ca để dạy học sinh:

Thấy người hoạn nạn thì thương,

Thấy người tàn tật lại càng trông nom,

Thấy người già yếu ốm mòn,

Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.

Trời nào phụ kẻ có nhân,

Người mà có đức, muôn phần vinh hoa

— Nguyễn Trãi (Gia huấn ca)

Có nhiều câu ca dao tục ngữ ẩn chứa triết lý về tình thương được giảng dạy trong nhà trường, đã in sâu trong tâm khảm người Việt Nam:

“Lá rành đùm lá rách”

“Thương người như thể thương thân”

“Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

Các bài học về tình thương yêu đồng bào, đồng loại đã nhắc nhở học sinh phải tôn trọng mạng sống của con người, có lòng nhân ái, không nói hay làm điều xấu. Đây là thước đo tiêu chuẩn đạo đức, nhân cách của con người.

trước 75, trước 1975, sách giáo khoa,

Một bài tập đọc trong sách giáo khoa trước 1975. (Ảnh qua GramUnion)

“Trọng cái tính mệnh của người ta, là đừng làm điều gì phạm đến thân thể và quyền tự do của người ta. Người ta ở đời, không có gì trọng hơn cái tính mệnh, hễ phạm đến, là một tội đại ác. Không những là giết người mới có tội, cậy quyền cậy thế mà hà hiếp người ta, làm mất cái quyền tự do của người ta, cũng là một điều trái với lẽ công bình, người có lương tâm không ai làm”. (Trích Trọng cái tính mệnh của người ta. Luân lý giáo khoa thư)

Không phạm đến tính mạng, của cải, danh dự, sự tự do và sự tín ngưỡng của người khác chỉ là giữ không làm điều ác mà thôi. Như thế vẫn chưa đủ bổn phận làm người, còn phải có lòng nhân ái. Nhân ái là lòng từ thiện, thương người đói khát, giúp người hoạn nạn. Có lòng nhân ái, thì mới làm những việc như bố thí, cứu giúp người nghèo khổ, mới biết thương yêu mọi người và quên mình mà làm điều thiện.

“Bổn phận người ta đối với xã hội, thường chia làm hai mối là: công bình và nhân ái. “Không hại người” tức là công bình, “làm hay cho người” tức là nhân ái.

Người ta mà không công bình, chẳng những có tội đối với lương tâm, mà luật pháp lại còn trừng trị nữa. Giết người thì phải thế mạng; trộm cắp thì phải ngồi tù, xưa nay ở đâu cũng vậy.

Con người mà không có lòng nhân ái, thì tuy đối với luật pháp không có tội lỗi, nhưng đối với lương tâm, thì là không phải. Gặp người đói khó, mà mình không giúp người ta, cũng không ai bắt được mình, nhưng trong bụng không đành”. (Trích Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Luân lý/Sơ Đẳng. Công bình và nhân ái).

Bài thơ “Cách ăn ở” và “Những đứa trẻ mồ côi” là bài học luân lý về lòng nhân đạo mà học trò bậc tiểu học thời ấy được học nằm lòng. Khi thấy người hoạn nạn, đau yếu phải giúp đỡ bằng tình thương yêu chân thành.

Cách ăn ở

Ở cho có đức có nhân,

Mới mong đời trị được ăn lộc trời.

Thương người tất tả ngược xuôi,

Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ.

Thương người ôm dắt trẻ thơ,

Thương người tuổi tác già nua bần hàn.

Thương người cô quả cô đơn

Thương người đói rách lẩm than kêu đường.

Thấy ai đói rét thì thương,

Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.

Thương người như thể thương thân,

Người ta phải bước khó khăn đến nhà.

Đồng tiền bát gạo mang ra,

Rằng đây cần kiệm gọi là làm duyên.

— Nguyễn Trãi (Gia huấn ca)

  • Lòng biết ơn mọi người trong xã hội

Trong gia đình thì cha mẹ, vợ con, anh em nương tựa nhau. Ngoài xã hội, mọi người cũng đều có sự tương quan, không thể sống lẻ loi. Do nương nhờ nhau mà cuộc sống của mỗi cá nhân mới an ổn. Vì vậy đối với mọi người, mọi ngành nghề chúng ta đều cần phải biết ơn, tôn trọng, không được làm tổn hại. Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” chính là nói lên tinh thần biết ơn, là truyền thống đạo lý của con người Việt Nam. Trong bài Người ta phải làm việc, sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư cũng nói lên tinh thần này:

“Người làm ruộng có trồng trọt cấy cày, thì ta mới có thóc gạo mà ăn. Thợ nề, thợ mộc có làm nhà, thì ta mới có nhà mà ở. Thợ dệt có dệt vải, thợ may có may áo, thì ta mới có đồ mặc vào mình. Quyển sách ta học cũng phải có người làm, người in. Cái đường ta đi cũng phải có người sửa, người quét. Nói tóm lại, nhất thiết một chút gì ta cần dùng đến, cũng là có người chịu khó làm việc mới nên”. (Trích bài Người ta phải làm việc, trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

Thật vậy, trong xã hội muốn sinh tồn thì mọi người phải có bổn phận đem sức mình giúp vào lợi ích chung. Biết nhớ ơn công sức của mọi người cũng giúp ta có trách nhiệm tạo ra những giá trị có ích cho người khác. Bài “Giấc mộng” là một trong những bài thơ dạy học sinh biết yêu mến và nhớ ơn mọi người.

Nằm mộng thấy nông phu lại bảo:

“Ra công làm kiếm gạo từ đây.

Tao thôi chẳng có nuôi mầy,

Phải lo trồng trọt cấy cày cho siêng.”

Người dệt cửi dặn mỉnh làm áo;

Chú thợ hồ lại bảo cầm bay!

Bơ vơ chẳng kẻ đoái hoài,

Tôi mang thơ thẩn đọa nầy cùng nơi.

Tôi túng thế vái trời cứu thử,

Lại thấy kia sư tử trên đàng!…

Tỉnh ra, thấy sáng, mơ màng!

Tiểu công hút gió, rộn ràng trên thang;

Nghe máy dệt rần rần tiếng chạy;

Ruộng đâu đâu cũng cấy đã xong.

Phận mình nghĩ lại thong dong,

Mới hay dưới thế ai không nhờ người.

Từ ngày rõ cuộc đời đắp đồi,

Cám thương người xã hội như nhau.

Dập dìu kẻ trước người sau,

Sức riêng một ít giúp vào lợi chung.

— Nguyễn ngọc Ẩn (100 Bài Tập đọc, Lớp Nhất và Lớp Nhì)

Bài học “Nên giúp đỡ lẫn nhau” cho thấy hinh ảnh hai cậu bé phụ đẩy xe giúp ông lão, là bài học nhắc nhở học sinh về tình tương thân tương ái.

“Trời nắng to. Đường thì dốc. Một ông lão đẩy chiếc xe lợn. Trên chiếc xe có có ba bốn con lợn to, chân trói, bụng phơi và mồm kêu eng-éc. Ông lão cố đẩy cái xe, mặt đỏ bừng, mồ hôi chảy, mà xe vẫn không thấy chuyển.

Mấy cậu bé đang chơi trên bờ đê, thấy thế, vội chạy tới, xúm lại, buộc dây vào đầu xe mà kéo hộ.

Xe lên khỏi dốc, ông lão cám ơn các cậu và các cậu cũng lấy làm vui lòng, vì đã giúp được việc cho người”. (Trích Quốc Văn Giáo Khoa Tư/Lớp Dự Bị)

trước 75, trước 1975, sách giáo khoa,

Bài học thuộc lòng “Chiếc áo ấm” trong sách giáo khoa trước 1975 ở miền Nam. (Ảnh qua Facebook Chuyện Sài Gòn)

  • Tình yêu quê hương đất nước

Ngoài những nội dung liên quan đến việc xây dựng cho trẻ tình yêu thương, nhân ái, tôn trọng các ngành nghề trong xã hội, gần một phần ba số bài thơ dùng làm bài học thuộc lòng là nhằm bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những tình cảm lành mạnh đối với quê hương đất nước. Đó là những bài thơ ca ngợi quê hương xứ sở giàu đẹp, qua hình ảnh của con trâu trên đồng lúa, mái tranh vách đất trong xóm nghèo, rồi những con kênh, giếng nước, lũy tre…, các hoạt động xã hội trong làng xã, gợi nên ước mơ về một cuộc sống an cư lạc nghiệp trong cảnh hòa hợp, thanh bình, hạnh phúc:

Quê em nhà cửa liền nhau,

Mái tranh, mái ngói chen màu xinh xinh.

Quê em có miễu, có đình,

Có con sông nhỏ uốn mình trong tre.

Có đồng có ruộng bao la,

Nông dân làm lụng hát ca bên đồng.

Lúa xanh đang trổ đòng đòng,

Một mùa mơn mởn đẹp lòng dân quê.

Nương dâu xanh ngắt bốn bề,

Bắp, mì, khoai, đỗ, lang, mè tốt xanh.

Sớm hồng trời đẹp trong lành,

Sương mai rung động trên cành chim ca.

Vàng son lơ lửng chiều tà,

Đồng quê thơ mộng bao la xanh rờn.

— Thanh Giang (Tiểu học nguyệt san, tháng 10/1958)

Tóm lại trong giai đoạn trước năm 1975, nội dung các sách giáo khoa môn quốc văn của nền giáo dục miền Nam chú trọng đến những vấn đề đạo đức truyền thống, hướng tới triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa: Nhân bản -Dân tộc- Khai phóng.

Dù thời gian có trôi qua, hoàn cảnh có biến đổi, nhưng các giá trị đạo đức làm người trong các trang sách quốc văn của nền giáo dục miền Nam, như kính yêu cha mẹ, tình thầy trò, bè bạn, lòng yêu quê hương đất nước, tình yêu đồng bào và nhân loại… vẫn in sâu trong ký ức của các học sinh qua bao thế hệ.

>>> Cải cách chữ viết – Nếu cái giá phải trả là sự “đứt gãy” văn hóa…

>>> Đoàn nghệ thuật Hồng Ân – Món quà tuyệt vời cho trẻ nhỏ trong dịp Tết Trung Thu

Hồng Liên (t/h)


Source link

Bình luận

About admin

Check Also

Nhau thai – sau khi ra khỏi người sản phụ – sẽ đi đâu?

Nhau thai – sau khi ra khỏi người sản phụ – sẽ đi đâu? – TinhHoa.Net

>>> Nhau thai người làm thuốc: Đại bổ hay đại hại? Tại Bệnh viện Phụ …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *